Nhóm kháng sinh này có khả năng trị bệnh cho động vật (gia súc, thủy hải sản,…) do có khả năng ảnh hưởng đến quá trình tổng hợp protein bằng cách tạo liên kết cố định với các ribosome, phá vỡ màng tế bào của các loài vi khuẩn gây bệnh. Tuy nhiên, nếu người sử dụng lâu dài các sản phẩm chứa các loại dư lượng này có khả năng mắc các chứng bệnh như đột biến, ung thư,… hoặc bị kháng thuốc khi cần điều trị bệnh.
Do vậy, ở tất cả các nước, các cơ quan chức năng rất chú trọng đến việc quản lý các hóa chất này từ việc sử dụng nuôi trồng đến việc kiểm soát dư lượng tồn dư trong các sản phẩm có nguồn gốc động vật. Ở châu Âu, các giới hạn tối đa cho phép của các kháng sinh này được quy định chặt chẽ trong chỉ thị 96/23/EC, đồng thời tiêu chuẩn về các phương pháp phân tích định tính, định lượng cũng được trình bày trong quyết định 2002/657/EC.
Bảng: Giới hạn cho phép vài chất thuộc họ Aminoglycoside theo quy định châu Âu

Hiện nay, theo các nghiên cứu đã được trên các tạp chí, phương pháp xác định nhóm các chất thuộc họ aminoglycoside rất phong phú, đa dạng với các kỹ thuật khác nhau như Elisa, HPLC-UV, so màu,… kết hợp có tạo dẫn suất hoặc không; tuy nhiên, đối với phân tích dư lượng các kháng sinh trong thủy hải sản, theo khuyến cáo của châu Âu và Mỹ, được thực hiện bằng thiết bị sắc ký ghép khối phổ là tốt nhất.
Đối với aminoglycosides, các nhà nghiên cứu thường chọn kỹ thuật sắc ký sắc ký lỏng ghép khối phổ, phương pháp đang được thế giới đánh giá rất cao với độ nhạy và độ chính xác cao cùng với những ưu điểm nổi bật của nó.
Tại Trung tâm dịch vụ phân tích thí nghiệm TP.HCM (CASE), aminoglycoside trong thủy hải sản và một số thực phẩm khác được phát hiện và định lượng bằng kỹ thuật sắc ký lỏng ghép khối phổ đầu dò 3 tứ cực (LC/MS/MS Triple quad) hoặc đầu dò tứ cực – bẫy ion (QTRAP) với giới hạn phát hiện 300µg/kg. Với những trang thiết bị hiện đại, đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn cao CASE hy vọng sẽ góp phần đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật khi xuất khẩu thủy hải sản vào các thị trường trên thế giới.